Kích hoạt tăng trưởng hai con số từ những đột phá ở cấp độ doanh nghiệp
Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số” quy tụ lãnh đạo các cơ quan Trung ương, chuyên gia kinh tế, nhà khoa học, đại diện các viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao cho giai đoạn phát triển mới, những thảo luận tại diễn đàn tập trung vào một vấn đề cốt lõi: làm thế nào chuyển động lực tăng trưởng từ các biện pháp kích thích tổng thể sang năng lực thực chất của từng doanh nghiệp, ngành, địa phương và dự án đầu tư.
Tăng trưởng cao đòi hỏi một nền tảng phát triển mới
Phát biểu khai mạc diễn đàn, GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là yêu cầu về quy mô hay tốc độ. Mục tiêu này còn đặt ra yêu cầu về bước chuyển căn bản trong chất lượng thể chế, năng suất, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
“Muốn đạt được mục tiêu này, tăng trưởng phải được hình thành trên một nền tảng mới: năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, thị trường thông suốt hơn, công nghệ hiện đại hơn và bộ máy thực thi hiệu quả hơn”, GS.TS Lê Văn Lợi khẳng định.
Theo ông, nhiều năm qua, chính sách kinh tế của Việt Nam tập trung vào ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Đây là nền tảng quan trọng để duy trì niềm tin thị trường và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, ổn định vĩ mô mới chỉ là điều kiện cần. Năng lực tăng trưởng thực sự được hình thành từ hoạt động của doanh nghiệp, hiệu quả của từng ngành, khả năng khai thác lợi thế tại mỗi địa phương và chất lượng của các dự án đầu tư cụ thể.
Một nền kinh tế khó có thể tăng trưởng nhanh và bền vững nếu doanh nghiệp vẫn phải dành quá nhiều thời gian, chi phí cho thủ tục hành chính; nếu vốn chưa được phân bổ đến những dự án có năng suất cao; hoặc khi đất đai, dữ liệu, công nghệ và nguồn nhân lực chưa được khai thác hiệu quả.
Từ thực tế đó, GS.TS Lê Văn Lợi đề xuất chuyển mạnh trọng tâm sang các cải cách vi mô mang tính đột phá. Trong đó, cần hình thành cơ chế khuyến khích nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ; mở rộng tín dụng dựa trên dữ liệu và triển vọng kinh doanh; xây dựng thị trường dữ liệu minh bạch; đồng thời triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những mô hình kinh doanh mới.
Để các đột phá vi mô thực sự trở thành động lực của tăng trưởng hai con số, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh ba yêu cầu.
Trước hết, bộ máy quản lý cần chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Chính sách không chỉ đặt ra điều kiện kiểm soát mà cần mở đường cho doanh nghiệp đầu tư, sáng tạo và mở rộng thị trường.
Tiếp đó, cần chuyển từ chính sách bình quân sang chính sách có trọng tâm, trọng điểm, qua đó tập trung nguồn lực cho những ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp có khả năng tạo giá trị gia tăng, sức lan tỏa và năng suất cao.
Cuối cùng, chất lượng thực thi phải được coi là một bộ phận cấu thành của chính sách. Một chính sách được thiết kế tốt nhưng triển khai chậm, thiếu đồng bộ hoặc tạo thêm chi phí tuân thủ sẽ khó mang lại hiệu quả như kỳ vọng.
Động lực tăng trưởng cần được tìm kiếm từ chính sách vi mô
Phát biểu đề dẫn, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, cho biết GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, mức cao nhất trong 16 năm qua.
Kết quả này cho thấy sức phục hồi và khả năng thích ứng của nền kinh tế. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, dư địa dành cho các chính sách vĩ mô truyền thống như nới lỏng tiền tệ quy mô lớn hay kích cầu tài khóa diện rộng đang dần thu hẹp. Vì vậy, những động lực tăng trưởng mới cần được tìm kiếm từ các chính sách vi mô, hướng trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp và hiệu quả vận hành của thị trường.
Nhìn từ thực tiễn doanh nghiệp, nền kinh tế đang xuất hiện không ít nghịch lý. Doanh nghiệp trong nước có nhu cầu vốn lớn nhưng khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp muốn chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ và đổi mới mô hình kinh doanh nhưng vẫn gặp trở ngại về thể chế, chi phí đầu tư và chi phí tuân thủ.
“Các chính sách vi mô cần được đánh giá về chi phí - lợi ích một cách thận trọng, không chỉ quản lý rủi ro hiệu quả mà còn phải giảm chi phí giao dịch, tạo không gian cho đổi mới sáng tạo”, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Thông điệp này đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận trong xây dựng chính sách. Thay vì chỉ tập trung ngăn ngừa rủi ro, cơ quan quản lý cần đồng thời tính đến chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tuân thủ, cũng như những cơ hội tăng trưởng có thể bị bỏ lỡ nếu quy định thiếu linh hoạt.
Bốn hướng chính sách mở đường cho tăng trưởng
Tại diễn đàn, các đại biểu tập trung thảo luận bốn nhóm giải pháp có khả năng tạo ra những chuyển biến rõ nét ở cấp độ doanh nghiệp và thị trường.
Một trong những nội dung trọng tâm là thiết kế thể chế đột phá cho các khu kinh tế, khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế. Đây được kỳ vọng là những không gian thử nghiệm chính sách mới, thu hút dòng vốn, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và các mô hình kinh doanh hiện đại.
Nhóm giải pháp thứ hai liên quan đến đổi mới chính sách thuế và tài khóa. Thay vì ưu đãi dàn trải, chính sách cần được thiết kế theo hướng có trọng tâm, tập trung cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao.
Thứ ba là tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn thông qua các sản phẩm tín dụng linh hoạt, phù hợp hơn với đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp công nghệ cao và các mô hình kinh doanh mới. Khi tài sản hữu hình không còn là thước đo duy nhất, dữ liệu, dòng tiền, năng lực quản trị và triển vọng kinh doanh cần được xem xét đầy đủ hơn trong quá trình cấp tín dụng.
Nhóm giải pháp thứ tư là hoàn thiện hành lang pháp lý cho trí tuệ nhân tạo. Việc xây dựng một môi trường pháp lý minh bạch, có khả năng quản lý rủi ro nhưng không triệt tiêu sáng tạo được xem là điều kiện quan trọng để AI trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Ảnh: Quang cảnh Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số”.
Mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp và bài toán tăng trưởng thực chất
Đưa ra khuyến nghị chính sách tại diễn đàn, TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, nhìn nhận mục tiêu tăng trưởng 10% trong giai đoạn 2026-2030 là một thách thức rất lớn.
Theo ông, giai đoạn 1996-2000 là thời kỳ Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm cao nhất kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới. Thành quả này gắn với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN và mở cửa mạnh mẽ nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong giai đoạn 2006-2025, tốc độ tăng trưởng bình quân của các giai đoạn 5 năm chỉ đạt khoảng 6,2-6,3%. Khoảng cách giữa mức tăng trưởng này với mục tiêu 10% cho thấy Việt Nam không thể chỉ dựa vào các động lực truyền thống mà cần tạo ra sự thay đổi căn bản về năng suất và năng lực của khu vực doanh nghiệp.
TS. Phạm Anh Tuấn đánh giá Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân là bước đi đúng hướng. Dù vậy, mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế sẽ không dễ thực hiện.
“Hiện Việt Nam có hơn 1 triệu doanh nghiệp. Để đạt mốc 2 triệu vào năm 2030, mỗi năm cần tăng thêm ít nhất 200.000 doanh nghiệp, trong khi giai đoạn 2016-2025 chưa năm nào số doanh nghiệp tăng ròng vượt 100.000”, ông Phạm Anh Tuấn phân tích.
Thách thức không chỉ nằm ở số lượng mà còn ở sức khỏe và chất lượng của doanh nghiệp. Theo số liệu của VCCI được dẫn tại diễn đàn, trong 6 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp báo lỗ vẫn cao hơn số doanh nghiệp báo lãi.
Mặc dù số doanh nghiệp thành lập mới tăng khá, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao. Đáng chú ý, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng 94,7% so với cùng kỳ.
Quy mô của phần lớn doanh nghiệp Việt Nam cũng còn khá nhỏ. Khoảng 70% doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng, hơn 81% doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động, trong khi tỷ suất lợi nhuận bình quân năm 2024 chỉ đạt 2,2%.
“Với quy mô vốn và lao động như hiện nay, khả năng tích lũy, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường hay tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế”, TS. Phạm Anh Tuấn nhận định.
Không thể giải bài toán dài hạn bằng hỗ trợ ngắn hạn
Theo TS. Phạm Anh Tuấn, doanh nghiệp Việt Nam hiện phải đối mặt với bốn nhóm điểm nghẽn lớn, gồm thể chế, khả năng tiếp cận nguồn lực, thị trường và đổi mới sáng tạo.
Ở khía cạnh thể chế, doanh nghiệp vẫn phải gánh chi phí tuân thủ lớn, đồng thời đối mặt với những thay đổi chính sách chưa thực sự ổn định. Điều này làm tăng mức độ bất định, ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư dài hạn.
Về nguồn lực, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ và dữ liệu. Trong khi đó, yêu cầu từ thị trường ngày càng cao khi các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, môi trường, phát thải và truy xuất nguồn gốc liên tục được nâng lên.
Nguồn lực dành cho đổi mới sáng tạo cũng còn hạn chế. Không ít doanh nghiệp nhận thức được yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hiện đại hóa quản trị nhưng thiếu vốn, nhân lực và năng lực tổ chức để triển khai trên quy mô đủ lớn.
Để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, TS. Phạm Anh Tuấn đề xuất ưu tiên sáu nhóm chính sách: tiếp tục cải cách thể chế; khơi thông nguồn lực; phát triển thị trường vốn; thực hiện chính sách thuế hỗ trợ đổi mới sáng tạo; phát triển dữ liệu và hạ tầng số; nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước để kết nối hiệu quả hơn với khu vực FDI.
Theo ông, điểm nghẽn của nền kinh tế hiện nay không chủ yếu nằm ở tổng cầu mà nằm ở năng lực của doanh nghiệp, từ môi trường thể chế vi mô, khả năng tiếp cận nguồn lực, mở rộng thị trường đến năng lực đổi mới.
“Trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động, điều quan trọng là giúp doanh nghiệp tồn tại, lớn lên, đổi mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Tăng trưởng hai con số chỉ có thể đạt được khi Việt Nam đồng thời nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực của doanh nghiệp trong nước. Đây là câu chuyện phát triển doanh nghiệp mang tính dài hạn, không thể giải quyết bằng các biện pháp hỗ trợ ngắn hạn”, TS. Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh.
Thông điệp từ diễn đàn cho thấy mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ khó được hiện thực hóa chỉ bằng việc mở rộng đầu tư hoặc kích thích nhu cầu trong ngắn hạn. Nền kinh tế cần một lực lượng doanh nghiệp đông đảo hơn nhưng đồng thời phải khỏe mạnh hơn, có năng suất cao hơn và đủ khả năng hấp thụ công nghệ, vốn, dữ liệu cũng như các cơ hội từ hội nhập quốc tế.
Khi từng thủ tục được đơn giản hóa, từng dòng vốn được phân bổ hiệu quả và từng doanh nghiệp có thêm không gian để đổi mới, các chính sách vi mô sẽ không còn là những điều chỉnh nhỏ lẻ. Đó có thể trở thành nền móng trực tiếp để Việt Nam kích hoạt một chu kỳ tăng trưởng mới, nhanh hơn, chất lượng hơn và bền vững hơn.